Skip to main content

Thế giới phẳng mà sao chúng ta vẫn còn CONG?

Cụm từ “thế giới phẳng” đã trở thành 1 cụm từ thông dụng xuất phát từ cuốn sách “The World is Flat” của nhà báo Thomas L. Friedman người đã đã ba lần đoạt giải Pulitzer viết về toàn cầu hóa và những biến động lớn trong thời đại hiện nay. Dù bị nhiều chỉ trích, cuốn sách đã tạo ra 1 hiện tượng lớn ngay từ khi xuất bản lần đầu năm 2005, được bán rất chạy và giúp nhiều người hiểu về cái sự phẳng của thế giới.

Dưới đây là một số nội dung do tôi tóm tắt lại từ cuốn sách dày ngàn trang này. Bạo nào chưa đọc sách thì đọc status này sẽ hiểu cơ bản về “Thế giới phẳng”.

Thế giới phẳng mà sao chúng ta vẫn còn CONG?


BA KỶ NGUYÊN TOÀN CẦU HÓA
- Kỷ nguyên thứ nhất - Toàn Cầu hóa 1.0 - bắt đầu từ năm 1492 khi Columbus khám phá ra Thế Giới mới và mở ra sự giao thương giữa Thế giới Cũ và Thế giới Mới cho đến năm 1800. Với sự đề cao sức mạnh của các Quốc gia và Tôn giáo. Kỷ nguyên toàn cầu hóa 1.0 này được đánh dấu bởi năng lực sản xuất của các nước biết sử dụng sức mạnh công nghiệp.

- Kỷ nguyên thứ hai - Toàn Cầu hóa 2.0 - bắt đầu từ 1800 cho đến 2000 với động lực thúc đẩy hội nhập toàn cầu đến từ các tập đoàn đa quốc gia. Kỷ nguyên này đã bị gián đoán bởi cuộc Đại suy thoái và 2 cuộc chiến tranh thế giới. Sự hội nhập toàn cầu trong nửa đầu của kỷ nguyên thứ hai này được thúc đẩy nhờ chi phí giao thông giảm với sự gia đời của động cơ hơi nước và đường sắt. Trong nửa sau của Kỷ nguyên thứ hai, sự hội nhập toàn cầu xảy ra với tốc độ nhanh hơn nhờ vào sự giảm chi phí thông tin nhờ sự phổ biến của điện tín, điện thoại, máy tính, vệ tinh, cáp quang và phiên bản đầu của Internet. Kỷ nguyên này làm thế giới co lại từ cỡ trung bình xuống cở nhỏ.

- Kỷ nguyên thứ ba - Toàn cầu hóa 3. - bắt đầu từ năm 2000, với động lực thúc đẩy là sự kết nối toàn cầu ở một bước mới diễn ra nhờ vào sự kết nối giữa các máy tính cá nhân, hệ thống cáp quang, và phần mềm xử lý công việc. Sự hội tự này cho phép các cá nhân cộng tác và cạnh tranh trên toàn cầu. Toàn cầu hóa 3.0 làm cho thế giới co lại đến mức siêu nhỏ hay có thể nói một cách hình tượng là làm cho thế giới trở nên phẳng. Kỷ nguyên này trao quyền cho các cá nhân từ mọi nơi trên thế giới.
Nếu chủ thể của Toàn cầu 1.0 là các quốc gia, chủ thể của toàn cầu hóa 2.0 là các tập đoàn đa quốc gia từ châu Âu và Mỹ, , thì chủ thể của Toàn cầu hóa 3.0 là các cá nhân ở khắp mọi nơi trên thế giới vốn ngày càng trẻ nên “nhỏ” và “phẳng” hơn.

MƯỜI NHÂN TỐ LÀM PHẲNG THẾ GIỚI
- Nhân tố thứ nhất: Sự sụp đổ của nền kinh tế phi thị trường và rào cản thông tin cá nhân.
Cuộc cách mạng ngày 9/11/1989 đã xô đổ bức tường Berlin, chính thức kết thúc chiến tranh lạnh giữa hai bên và xóa đi nền kinh tế tập trung hóa, vận hành theo mệnh lệnh từ trên xuống của phía đông bức tường. Nền kinh tế tế tự do của phía tây, vận hành theo nhu cầu của thị trường “lên ngôi”, được áp dụng cho cả hai bên của bức tường.
Sự phát triển của máy tính cá nhân và hệ điều hành Windows đã phổ cập tin học cá nhân và xóa bỏ một rào cản vô cùng lớn: giới hạn về dung lượng thông tin từng cá nhân có thể quản lý và truyền tải.

- Nhân tố thứ hai: Ngày 8/9/1995 – Mạng Web xuất hiện và Netscape xuất hiện.
Năm 1991 Ông Berners – Lee đã phát minh ra mạng Web toàn cầu với ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML. Kể từ ra đời, mạng Web và Internet đã phát triển đồng nhất với tốc độ siêu tốc. Chỉ trong vòng 5 năm, số lượng người sử dụng Internet đã tăng từ 600 ngàn đến 40 triệu.
Ngày 8/9/1995 Netscape bán cổ phiếu đợt đầu cho công chúng. trình duyệt thương mại đầu tiên thế giới của Netscape không chỉ làm cho Internet trở nên sống động mà còn cho phép mọi người từ trẻ đến già có thể sử dụng và làm nhiều công việc khác nhau với Web.

- Nhân tố thứ ba: Những phần mềm xử lý quy trình công việc.
Với việc kết nối ngày càng được cải tiến và những phần mềm xử lý quy trình có chức năng siêu việt, nhưng tiện dụng ngày nay con người có thể chia sẻ công việc cho nhau 1 cách dễ dàng. Ngôn ngữ XML và giao thức truyền SOAP cho phép các máy tính có thể trao đổi dữ liệu, tài liệu đã được định dạng chứa các loại thông tin: hồ sơ bệnh án, quảng cáo, gia dịch tài chính…Nhờ vậy, những dự án phức tạp có thể được chia ra từng phần, và được tiến hành làm tại nhiều nơi và phối hợp nhịp nhành với nhau.

- Nhân tố thứ tư: Những phần mềm với mã nguồn mở, và việc tải lên mạng.
Song song với các phần mềm của các công ty, chúng ta còn có thể tiếp cận các phần mềm với mã nguồn mở do các cá nhân, cộng đồng viết và tải lên mạng. Với sự chung tay phát triển, với trí tuệ của nhiều người những phần mềm mã nguồn mở này ngày càng được cải tiến và hữu ích.
Với mong muôn được cùng tham gia và được người khác nghe thấy ý kiến của mình, cộng đồng ngày càng tích cực tải và chia sẻ thông tin trên mạng phần mềm mã nguồn mở, trò chơi trực tuyến, blog, wikipedia… Việc tải, chia sẻ và hợp tác với nhau trên mạng có thể được xem như là 1 nhân tố sức mạnh khủng khiếp trong việc làm phẳng thế giới.

- Nhân tố thứ năm: Outsourcing - thuê ngoài.
Với sự hỗ trợ của công nghệ, các công ty có thể chia chuỗi dịch vụ và các hoạt động sản xuất của mình thành các thành phần, và thuê ngoài cho những thành phần công việc này. Khi đó chúng sẽ được thực hiện theo cách thức hiệu quả nhất với chi phí thấp nhất.
Những kỹ sư công nghệ thông tin của Ấn độ đã được đào tạo bài bản và tinh nhuệ để cung cấp cho Mỹ dịch vụ khác phục sự cố Y2K. Sự cố Y2K không xảy ra nhưng đã giúp cho Ấn Độ lợi thế to lớn trong việc cung cấp cho Mỹ những công việc thuê ngoài trong ngành Công nghệ thông tin.

- Nhân tố thứ sáu: Offshoring – Chuyển sản xuất ra nước ngoài.
Đó là việc di chuyển một phần hay nhiều phần sản xuất /vận hành của 1 công ty ra một nước khác. Việc này thường được các nước Âu, Mỹ áp dụng đối với các nước Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan , Mexico , Ai-len , Brazil và Việt Nam; trong đó Trung Quốc chiếm thị phần ngày cang lớn nhất là từ sau năm 2001 sau khi Trung Quốc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới. Mặc dù đang hưởng lợi từ việc thuê ngoài của một Trung Quốc đang phát triển nhưng nước Mỹ cần phài chiến lược đối phó với những thách thức mà Trung Quốc đang tạo ra cho nhiều lãnh vực công nghiệp của mình. Nếu không có chiến lược thích hợp, nước Mỹ sẽ mất đi rất nhiều sức mạnh kinh tế và ảnh hưởng của mình trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc.

- Nhân tố thứ bảy: Chuỗi cung ứng.
Chuỗi cung ứng là phương pháp tương tác theo chiều ngang giữa các nhà cung cấp, nhà bán lẻ và khách hàng nhằm tạo ra giá trị. Bản thân chuỗi cung ứng là một nhân tố làm phẳng nhưng nó cũng được trợ lực và phát triển hơn nhờ sự làm phẳng của thế giới. Một ví dụ tuyệt vời của chuỗi cung ứng đó là Walmart. Đây là công ty có doanh số lớn nhất thế giới nhưng bản thân nó không sản xuất gì cả. Tất cả những gì Walmart làm là tạo ra 1 chuỗi cung siêu hiệu quả, vận chuyển 2,3 tỷ kiện hàng/năm.

- Nhân tố thứ tám: Thuê bên ngoài làm hệ thống cung ứng.
Hầu hết các công ty không thể tự mình tạo ra chuổi cung ứng hoàn hảo như Wal-mart. Họ không biết làm sao để thực hiện tất cả các công đoạn một cách trọn vẹn, hoặc không có khả năng để có thể tự quản lý chuỗi cung toàn cầu phức hợp. Điều này đã tạo ra những cơ hội kinh doanh cho các công ty như UPS. Công này không chỉ phụ trách vận chuyển mà giúp tạo ra và quản lý chuỗi cung ứng cho khách hàng. Chẳng hạn như UPS sửa chữa máy tính vào giao máy tính cho khách thay cho Toshiba, và tổ chức các tuyến đường giao hàng cho bánh pizza Papa John. UPS và những nổ lực cung cấp chuổi cung ứng của họ, đang trở thành nhân tố làm phẳng mạnh mẽ.

- Nhân tố thứ chín: Cung cấp thông tin.
Informing – cung cấp thông tin là khả năng tìm kiếm thông tin, kiến thức để xây dựng và triển khai chuỗi cung về thông tin, kiến thức, và giải trí của mỗi cá nhân. Với Google, Yahoo, MSN và các công cụ tìm kiếm khác trên mạng web, con người ngày nay tự mình có thể tìm thấy rất nhiều các loại thông tin ở khắp mọi nơi trên thế giới. Đặc biệt, dịch vụ tìm kiếm Google ngày càng trở nên chính xác và tiện dụng giúp mọi người tìm kiếm hầu hết những thông tin mà họ cần. Vào năm 2005 – khi tác giả viết cuốn sách này, hàng ngày Google xử lý 1 tỷ lệnh tìm kiếm, tăng từ 150 triệu lệnh so với 3 năm trước đó… Google và các cổ máy tìm kiếm không chỉ làm phẳng thế giới mà còn giúp cho con người sống tốt hơn. Nếu không sống tốt, họ dễ dàng “bị phát hiện” bởi nhiều người khác nhờ Google và các cổ máy tìm kiếm thông tin.

- Nhân tố thứ mười: Các nhân tố xúc tác
Nhân tố xúc tác 1: “số hóa: nhờ cuộc cách mạng công nghệ thông tin, hầu hết mọi thứ từ hình ảnh, giải trí, truyền thông, việc xử lý văn bản, thiết kế…đều có thể được số hóa. Nhân tố xúc tác thứ 2: những tiến bộ vượt bực trong công nghệ chia sẻ tài liệu. Nhân tố xúac tác thứ 3: những đột phá trong việc gọi điện thoại qua mạng – VoIP. Nhân tố xúc tác thứ 4: đàm thoại qua video. Khả năng xúc tác thứ 5: đồ họa máy tính. Nhân tố xúc tác thứ 6: các công nghệ và thiết bị không dây mới.
Cùng với nhau, các nhân tố xúc tác này đã tạo ra cuộc cách mạng “Tôi di động”. Hiện nay mỗi chúng ta đều có thể làm việc bên bờ biển hay trong khách sạn. Khi cuộc cách mạnh “Tôi di động” phát triển hơn, con người có thể làm việc và lấy thông tin từ bất cứ nơi cào, chuyển thông tin đến bất kỳ đâu với bất kỳ phương tiện nào.

*** Phần tóm tắt trên tôi trích từ cuốn sách “Tăng tốc đến thành công”, tác giả Lâm Minh Chánh, được giải nhất sách kinh doanh 2015 do độc giả Tiki bầu chọn, đã xuất bản 8000 cuốn, TGM: 5K, Alpha books: 3K. Hiện tại đã ngưng xuất bản, để biến thành những status đăng trong Group QtvKN.


Đọc thêm:  Hãy bắt đầu bằng việc suy nghĩ tới điểm kết thúc

Thân ái
Lâm Minh Chánh
Chủ tịch KPBT (Khám Phá Bản Thân)
loading...



Popular posts from this blog

Hướng dẫn sử dụng điếu cày cho người mới lần đầu tập hút thuốc lào

Chiếc điếu cày không còn đơn thuần chỉ là chiếc điếu cày dùng để hút thuốc lào nữa, mà nó còn thực sự là một tác phẩm nghệ thuật của những nghệ nhân thủ công truyền thống tại vùng quê xứ Thanh -  Thanh Hoá. Mà họ đã mày mò, tìm tòi, nghiên cứu những kiểu dáng điếu cày, kỹ thuật làm điếu cày sao cho đẹp, hút thuốc lào sao cho ngon, nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu hút hít thuốc lào của các anh em gần xa.

Hơn nữa cả thế giới đang cấm thuốc lá nhưng không thể cấm thuốc lào, và chiếc điếu cày sẽ còn theo chân chúng ta lâu dài trong xã hội hiện đại văn minh hôm nay. Để quá trình sử dụng điếu cày được đạt chuẩn mình xin lưu ý mấy điểm qua bài viết hướng dẫn sử dụng điếu cày sau đây:


1. Sau khi mua điếu cày về, anh em nên đổ nước vào điếu và cho thêm vài ba hạt muối trắng, xúc điếu và hút một thời gian để thuốc nhanh dậy mùi.

2. Vậy để làm sao để điếu lên nước đẹp? Để bảo quản điếu tốt và nhanh lên nước đẹp, mỗi ngày, buổi tối trước khi ngủ anh em nên dùng vải màn, nhỏ một giọt dầu ăn và la…

LÀM MÀU - MAKE COLOUR - INDIAN

Làm màu là gì? Làm màu hay các bạn trẻ hay gọi vui là "make colour" ( theo tiếng anh ) là việc màu mè hóa hình thức lên để thuyết phục người khác. Bây giờ bạn đã hiểu từ "làm màu" mà các bạn bè mình hay dùng để nói mình hoặc người khác chưa?

Kỹ năng này rất cần trong kinh doanh, mà chỉ làm màu cho sản phẩm thôi nhé, nhưng hãy nhớ là phải dựa hoàn toàn vào "chất" thực sự rồi hẵng làm. Làm cho kỳ vọng người ta cao vút rồi người ta không thỏa mãn người ta sẽ INDIAN cho đấy ( INDIAN nghĩa là I Never Do It AgaiN, xin lỗi mấy bạn Ấn Độ).



Còn trong cuộc sống, người với người thì không cần phải làm màu đâu, có gì nói nấy là tuyệt nhất. Vì con người nhạy cảm lắm, nhìn qua là người ta cảm giác được mình nói thật hay nói quá rồi. Cố làm gì.

Chân thành mà đến với nhau, đỡ mất thời gian, mất công sức, mất tình cảm. Con người ai cũng bình đẳng, chẳng ai hơn ai kém ai cả, vậy mới yêu thương được nhau và hạnh phúc nha.

Đừng "đến với nhau một lần mà ánh mắt bao ngại …

Các bước để học và thực hành PLC cho người mới bắt đầu

1. Tìm hiểu về phần cứng, phần mềm và cách đấu nối mạch điện cho PLC. Phần này ta có thể tìm hiểu các tài liệu của các hãng PLC.
2. Cần trang bị kiến thức về điện, đọc hiểu sơ đồ điện, cách lắp đặt các loại sensor, nút nhấn,... cho các ngõ vào và cách lắp đặt các relay, contactor, đèn báo,... cho các ngõ ra. Đối với Sensor cần lưu ý: có 2 loại NPN và PNP cần lựa chọn sensor cho phù hợp với toàn hệ thống.
3. Học và thực hành các lệnh cơ bản của PLC : In, Out, Tiếp điểm thường đóng, Tiếp điểm thường mở, Coil, Bit, Set, Reset, Timer, Counter, Sử dụng các biến số....
4. Tìm hiểu các lệnh nâng cao của PLC, các bộ phát xung, bộ đếm tốc độ cao, ngắt....
5. Tìm hiểu các loại kết nối truyền thông RS485, RS232, Ethernet,...


Các bước lập trình PLC cho một thiết bị hay dây chuyền sản xuất.
1. Tìm hiểu thiết bị, dây chuyền sản xuất: tìm hiểu về cơ cấu chấp hành và nguyên lý hoạt động, vận hành thiết bị hay dây chuyền sản xuất.
2. Xác định và đặt tên các cơ cấu chấp hành: đầu vào, các cảm biến, butt…

Trầm cảm là thứ tồi tệ nhất

Nó gặm nhấm ta từng chút, từng chút một, ngày này qua ngày khác. Ta không thể nói với ai. Nếu có nói ta cũng nhận lại những lời động viên hoàn toàn vô dụng, hoặc cái thứ gọi là trầm cảm là ta mê muội tin rằng: những lời nói ấy chẳng có ý nghĩa gì với ta trong lúc đó. Buồn hơn, ta còn có thể nhận lại những lời chỉ trích, nào là sao không sống tốt hơn đi, sao không lấy nó làm động lực, sao không vì người này, người kia, ở đó mà trầm với cảm, buồn với bã làm gì?

Mình là một đứa từng rơi vào trầm cảm năm lớp 11. Bố mất - người mình thương nhất ra đi. Mình rớt học sinh giỏi, từ hạng 3 của trường xuống học sinh khá của lớp. Mình mất căn bản vài môn. Thầy cô buông những câu chỉ trích, tại sao hồi xưa thế này, bây giờ lại như thế này. Bạn bè động viên thì ít mà vui mừng vì mình rớt hạng thì nhiều. Mình bị xỉa xói, mình bị nói xấu vì học càng ngày càng ngu đi. Mẹ đã sẵn buồn, thấy mình rớt hạng thì càng buồn hơn. Họ hàng toàn hỏi những câu sao học gì kì vậy con, thế này thế kia.

Từ đó, mình …

Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là gì?

Tôi đã đặt câu hỏi này cho nhiều doanh chủ. Đa số trả lời (một cách thật thà) là tìm kiếm LỢI NHUẬN. Các giám đốc tài chính (và nhiều chuyên gia tài chính) cũng thường nói vậy. Các giám đốc chức năng khác cũng thường trả lời na ná - làm gì làm, cũng phải có lời, chứ hổng lẽ làm cho lỗ? Sự tranh cãi giữa giám đốc marketing và giám đốc tài chính cũng thường xoay quanh chuyện lời lỗ. Giám đốc tài chính luôn nhìn vào dòng cuối cùng (bottom line), tức dòng lợi nhuận sau thuế để đánh giá mọi hoạt động marketing; và trong nhiều trường hợp, các chương trình marketing bị ách tắc vì 2 chữ profit (lợi nhuận) mà giám đốc tài chính sử dụng như bảo bối để nắm quyền "phủ quyết".


Ít ai hiểu được mục đích cuối cùng của doanh nghiệp KHÔNG PHẢI LÀ LỢI NHUẬN, tức không phải lấy doanh thu trừ chi phí xem còn lại bao nhiêu. Có lợi nhuận, nhưng giá trị cổ phiếu không tăng thì sao? Có nhiều công ty không có lời, thậm chí báo cáo lỗ, nhưng giá cổ phiếu vẫn tăng. Nếu là cổ đông, tức những đồng sở hữu…